Đăng nhập

Trang nhất » Trang chủ » 70 năm xây dựng và phát triển cơ quan làm công tác dân tộc




Trong sự nghiệp phát triển của cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Trị, từ Ban Chỉ đạo miền núi đến Ban Dân tộc ngày nay

Thứ ba - 05/04/2016 09:24
Cộng đồng các dân tộc Vân Kiều (Bru-Vân Kiều), Pa Cô (Tà Ôi) là những cư dân có mặt đầu tiên và lâu đời trong lịch sử khẩn đất, khẩn rừng vùng miền núi tỉnh Quảng Trị. Vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh- quốc phòng, môi trường sinh thái và là cầu nối thắt chặt mối quan hệ nghĩa tình giữa hai đất nước Việt Nam– Lào. Đồng hành với chiều dài lịch sử từ buổi tạo dựng, bảo vệ mảnh đất và con người Quảng Trị, cộng đồng các dân tộc đã cùng nhau cộng sinh, cộng cảm và cộng lực, vượt qua thử thách gian nan, ngự trị mọi hoàn cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên, chống lại thú dữ, bệnh tật, chiến đấu và chiến thắng để tồn tại, phát triển.


 Tinh thần cố kết cộng đồng ấy được nhân lên và thật sự khẳng định sức mạnh trường tồn khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; thể hiện qua ý chí cách mạng kiên cường, truyền thống đoàn kết, đức tính cần cù, vượt qua gian khó. Nơi đó đã ghi đậm dấu nét những chứng nhân lịch sử trong từng người con đồng bào Vân Kiều, Pa Cô mang họ Hồ của Bác, vững chải niềm tin nguyện một lòng theo Đảng để giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng quê hương.
 Cách mạng tháng 8 năm 1945- dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Trung Kỳ và Uỷ ban khởi nghĩa Quảng Trị, các đồng chí Trần Hoài Quang, Lê Khắc Khoan đã cùng với một số cán bộ vùng Hướng Hoá chỉ đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền ngày 26/8/1945. Thực hiện phong trào “Diệt giặc đói”, “Diệt giặc dốt”, “Diệt giặc ngoại xâm” sau ngày giành độc lập, đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia lao động sản xuất, đi dân quân tự vệ. Những thanh niên ưu tú tham gia các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cấp tốc để mở các lớp bình dân học vụ tiêu biểu như các đồng chí Hồ Sâm, Hồ Sỹ Thắng, Hồ Chay. Ban Thượng du vận đã được thành lập do đồng chí Lê Xích làm Trưởng Ban, hoạt động chủ yếu là giáo dục, vận động đồng bào các dân tộc ra sức thực hiện chính sách Đại đoàn kết dân tộc và chính sách phát triển kinh tế, xây dựng văn hoá, giáo dục, y tế.
 Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch trong thời gian từ 1946 đến năm 1954, đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Trị đã nhất tề đứng lên dốc toàn bộ sức lực của mình cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Hàng trăm thanh niên dân quân, tự vệ người đồng bào dân tộc thiểu số được huy động đến mặt trận đường 9 cùng với các đơn vị bộ đội của tiểu đoàn 13 – trung đoàn Nguyễn Thiện Thuật chặn đánh giặc Pháp ở phía Nam đường 9, đặc biệt là các trận đánh ở làng Úp, làng Trằm, Húc Thượng, Húc Ván, Khe Sanh.
 Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính và Uỷ ban Mặt trận Liên Việt, ngày 03/10/1953 Hội nghị đại biểu nhân dân Thượng du huyện Hướng Hoá được tổ chức với trên 250 đại biểu. Hội nghị đề ra nội dung: Học tập chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, vạch trần âm mưu chia rẽ giữa đồng bào miền núi với đồng bào miền xuôi của địch, phát động phong trào thi đua sản xuất và du kích chiến tranh, động viên sức người, sức của phục vụ kháng chiến. Chính quyền cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày được cũng cố và phát triển mạnh. Hàng trăm thanh niên, phụ nữ và cả người cao tuổi đồng bào các dân tộc trong toàn huyện đều hào hứng tình nguyện tham gia du kích với phong trào "đánh Tây, tiểu phỉ, trừ gian, diệt tề". Tiêu biểu cho những trận đánh của đồng bào các dân tộc trong thời kỳ này như trận phục kích ở đồn Ra Ồ, động Cho, làng Miệt, Húc Thượng... Những thắng lợi của phong trào đấu tranh du kích mà nhân dân các dân tộc đã dành được góp phần tiêu diệt sinh lực địch, ổn định hậu phương, ủng hộ tiền tuyến đi đến chiến thắng Điện Biện Phủ 1954 chấn động địa cầu.
 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi. Theo hiệp định Giơnevơ, Quảng Trị là giới tuyến tạm thời của hai miền Nam-Bắc đợi ngày tổng tuyển cử thống nhất tổ quốc. Nhưng đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tráo trở phá hoại Hiệp định đã ký kết. Ở bờ Nam sông Bến Hải trở vào, chúng ra sức đàn áp phong trào cách mạng, khủng bố nhân dân hết sức dã man. Hơn thế nữa, chúng còn dùng mọi âm mưu thủ đoạn xảo quyệt để chia rẽ dân tộc, chia rẽ Kinh-Thượng, dụ dỗ mua chuộc, lôi kéo kích động để đánh phá hậu cứ cách mạng, cắt đứt hành lang nối liền hậu phương với tuyền tuyến, hòng bắt nhân dân các dân tộc thiểu số phải khuất phục. Nhân dân Việt Nam và lương tri nhân loại không thể nào quên được tội ác của Mỹ Diệm tại vùng miền núi Quảng Trị, chỉ trong  buổi sáng ngày 8 tháng 7 năm 1955, chúng đã giết chết 92 người vô tội ở thôn Tân Hiệp, Tân Lập ở xã Hướng Điền (nay là xã Tà Rụt huyện Đakrông), sự tàn bạo đến mức “cái hung dữ của gió Nam Lào cũng phải run rẫy trước nó”.
 Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15-Khoá II của Đảng về Cách mạng miền Nam chỉ rõ: ”Vùng miền núi được xác định là vùng chiến lược quan trọng, các dân tộc thiểu số là lực lượng to lớn của cách mạng”. Tháng 8 năm 1958, Đảng uỷ khu vực Vĩnh Linh thành lập Ban Chỉ đạo miền núi để chỉ đạo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia kháng chiến, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về chính sách đoàn kết, vạch trần âm mưu thủ đoạn của kẻ địch, vận động đồng bào đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống và ủng hộ cách mạng, bảo vệ che dấu cơ sở, ủng hộ lương thực để nuôi quân. Ban Chỉ đạo miền núi đã nghiên cứu, nắm sát tình hình ở các vùng dân tộc miền núi, tham mưu cho Khu uỷ, Uỷ ban kháng chiến để có chủ trương, chính sách và biện pháp giải quyết đúng đắn, kịp thời. Đặc biệt đã có nhiều phương pháp, cách làm phù hợp với đặc điểm tâm lý, tập quán, truyền thống của dân tộc nên được đồng bào tiếp thu nhanh và thực hiện đạt nhiều kết quả tốt.
 Trong những năm  của thập kỷ 60, khi đế quốc Mỹ đánh phá và tung lực lượng gián điệp ra miền Bắc, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo được chuyển qua một nhiệm vụ mới “Bám dân, đẩy mạnh sản xuất, giác ngộ cho đồng bào nâng cao cảnh giác cách mạng, hiểu rõ âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ, nhằm ổn định tinh thần nhân dân, phát động phong trào nhà nhà cảnh giác, người người cảnh giác”. Nhân dân đã cùng với lực lượng địa phương, dân quân du kích kịp thời phát hiện và vây bắt được một số gián điệp, biệt kích và chủ động bắn trả những đợt bắn phá của địch, bảo vệ bí mật an toàn Đường 559 đi qua các xã xung yếu như Vĩnh Ô, Vĩnh Hà và một số xã nằm dọc đường biên giới. Đến năm 1968 khi chiến tranh ở miền Nam đi vào giai đoạn ác liệt, một số cán bộ và nhân dân ở phía Nam (quận Hướng Hoá, quận Cam Lộ) chuyển ra khu vực Vĩnh Linh được Ban tiếp nhận, bố trí ổn định nơi ăn, chốn ở và tổ chức sản xuất, tạo điều kiện cho con em được học hành, đào tạo cán bộ cơ sở để tăng cường vào phía nam phục vụ chiến đấu, công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
 Ở phía Nam, khu uỷ Trị Thiên-Huế thành lập Ban cán sự miền Tây lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, xây dựng vùng căn cứ, phát triển lực lượng tại chổ, tạo cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng. Đảng uỷ miền Tây đã chỉ đạo huyện uỷ Hướng Hoá tổ chức cho nhân dân Vân Kiều, Pa Cô mở hội thề kết nghĩa “Đoàn kết một lòng theo Đảng và Bác Hồ đến cùng, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ làng bản, kiên quyết đấu tranh chống Mỹ Diệm, thống nhất tổ quốc”.
 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày một gay go và quyết liệt, kẻ thù tìm mọi cách kể cả rải chất độc hoá học, ném hàng ngàn tấn bom, thực hiện hàng trăm cuộc càn quét ở vùng miền núi nhưng không thể đè bẹp ý chí cách mạng của quân và dân trong tỉnh nói chung, đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Ban Cán sự miền Tây cử một đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số của tỉnh ra miền Bắc thăm và được gặp Bác Hồ kính yêu, trong đó có bà Pỉ Ra Dắc. Bà Pỉ Ra Dắc vinh dự đã được Bác đặt tên là Hồ Thị Đá, khẳng định tấm lòng sắt son với cách mạng và vững chải như đá trước kẻ thù.
 Thực hiện phong trào “thi đua sản xuất giỏi, diệt giặc đói, giết giặc ngoại xâm” đồng bào khắp các bản làng hưởng ứng vót hơn 2 triệu cái chông, gài gần 2 vạn bẩy các loại, đào hơn 15.000 hầm chông. Đặc biệt ngày 05/4/1964 anh Hồ Viết Thắng-du kích thôn A Đăng xã Tà Rụt đã dùng súng trường bắn rơi chiếc máy bay L19, giết chết tên phi công và bắt sống một tên. Nhiều cán bộ cơ sở được cài vào hoạt động trong lòng địch đã mưu trí, dũng cảm giải thoát được một số cán bộ đảng viên bị địch bắt, cứu sống đồng chí bí thư chi bộ xã bị địch bắt đưa đi hành quyết.  Nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân bị địch tra tấn dã man như dùng dao rạch người, dùng lửa đốt cháy, chết đi sống lại vẫn không khai nữa lời. 
Ngoài những đóng góp trong chiến đấu, đồng bào các dân tộc thiểu số còn tham gia nhiều hoạt động khác như bảo vệ bí mật cơ sở cách mạng, bảo vệ an toàn chiến khu Ba Lòng; giúp đỡ cán bộ, tiếp lương, tải đạn, đào hầm, dẫn đường liên lạc... Ở các xã Hướng Hiệp, Mò Ó đồng bào hưởng ứng chủ trương của cách mạng đã tổ chức nhân dân phá ấp chiến lược của kẻ địch, đưa cán bộ về các vùng sâu, vùng xa để hoạt động; che dấu cán bộ, nuôi dưỡng thương binh; đập tan các cuộc càn quét của địch ở ấp Tân Tường quận Cam Lộ, ấp Cù Đinh-Ba De quận Gio Linh, ấp A Rồng quận Hướng Hoá... Vận động con em bỏ hàng ngũ của địch về với cách mạng và gia đình, điển hình như vận động 4 trung đội lính Trường Sơn làm binh biến nổi dậy vào tháng 3 năm 1972; vận động 90 binh lính địch là con em đồng bào ở xã Húc làm binh biến lấy súng địch trở về với cách mạng.
 Trong hoàn cảnh thiếu đói, khổ cực nhưng đồng bào thắt lưng, bóp bụng để ủng hộ cách mạng gần 250 tấn lương thực và thực phẩm. Đồng bào các dân tộc đã thực hiện tốt chủ trương “Một tấc không đi, một ly không rời" quyết tâm bám đất giữ làng, vừa bảo vệ cách mạng vừa sản xuất để giải quyết đời sống tại chổ. Mặt khác chống lại kế hoạch dồn dân lập ấp của địch, vận động con em lên đường tham gia các lực lượng vũ trang trực tiếp chiến đấu. Hàng ngàn con em đồng bào dân tộc thiểu số đã lên đường phục vụ tiền tuyến, tiếp lương, tải đạn, cứu thương, gùi trên lưng những mắt xích xe tăng, dùng thuyền độc mộc chở vũ khí lương thực phục vụ bộ đội chủ lực chiến thắng oanh liệt mặt trận Khe Sanh - Đường 9, xứng đáng lời khen ngợi của Bác Hồ kính yêu qua bức điện gửi ngày 09/7/1968 “Chuyển đến đồng bào, chiến sỹ và cán bộ miền Nam, đặc biệt là đồng bào, chiến sỹ cán bộ mặt trận Khe Sanh lời khen ngợi nhiệt liệt nhất”.
Đất nước thống nhất, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên thực hiện phát triển các mặt đời sống văn hoá xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Năm 1976, tỉnh Bình Trị Thiên hợp nhất từ ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Ban Dân tộc tỉnh Bình Trị Thiên là đơn vị trực thuộc Tỉnh uỷ, thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo vận động và tổ chức nhân dân trở về quê hương sớm ổn định nơi ăn, chốn ở, kịp thời phát triển sản xuất, củng cố chính quyền cơ sở, tuyên truyền đường lối chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đây là giai đoạn mà nền kinh tế cả nước khó khăn về mọi mặt, đối với miền núi Quảng Trị lại càng khó khăn hơn. Đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô đi sơ tán từ đất Lào trở về trên mảnh đất bạc màu đầy bom đạn chiến tranh; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh không có gì. Hầu hết các làng bản, ruộng đất, đồi núi bị hoang hóa; bom mìn, đầu đạn, dây kẽm gai... dày đặc, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, nhất là cái ăn, cái mặc và chỗ ở.
Phát huy truyền thống cách mạng, đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô trong tỉnh sát cánh cùng với đồng bào dân tộc Kinh từ các huyện Triệu Phong, Hải Lăng đi kinh tế mới để tái thiết hồi sinh vùng đất đỏ miền Tây trên hoang tàn đổ nát của chiến tranh. Nhiều phong trào ngay sau khi phát động đã được đồng bào các dân tộc nhiệt tình hưởng ứng, như phong trào phá gỡ bom mìn, định canh định cư, khai hoang phục hóa, tăng gia sản xuất, trồng cây gây rừng, phong trào xóa mù chữ, vệ sinh môi trường, luyện tập thể dục thể thao… Các phong trào đã mang lại nguồn sinh khí mới trên khắp các bản làng và đạt được những kết quả tốt.
Những kết quả trên, đã thể hiện sự cố gắng vượt bậc, khắc phục khó khăn gian khổ, lao động cần cù, tinh thần đoàn kết một lòng nhân dân các dân tộc trong tỉnh nỗ lực khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, khôi phục ổn định kinh tế - xã hội bước ban đầu, đồng lòng quyết tâm xây dựng huyện Hướng Hoá trở thành huyện miền núi kiểu mẫu như lời dặn dò của đồng chí cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập. Cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh được chuyển đổi tổ chức, là một bộ phận trực thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Đến năm 1992, được quyết định thành lập cơ quan Ban Miền núi trực thuộc UBND tỉnh. Năm 1994 đổi tên thành Ban Dân tộc và Miền núi cho đến năm 2004 thì được kiện toàn hệ thống tổ chức theo Nghị định 53 của Chính phủ với tên gọi là Ban Dân tộc cho đến nay.
Gần ba mươi năm sau ngày tái lập tỉnh nhà, vượt qua những khó khăn ban đầu như nhân lực ít, phương tiện làm việc thiếu, địa bàn công tác rộng…vv, Ban Dân tộc đã tổ chức và thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực dân tộc, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh đảm bảo sự thống nhất quản lý từ Trung ương đến địa phương.
Trong những năm từ 1989 đến 1998, thực hiện Nghị quyết 22/TW khóa VI của Bộ Chính trị, Quyết định số 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị quyết số 01/NQ-TU của Tỉnh uỷ Quảng Trị khoá XII và nhiều chính sách khác hỗ trợ ở vùng dân tộc và miền núi với mục tiêu tăng cường đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hoá, thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kết hợp với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội ở miền núi.
Trên cơ sở các chính sách, văn bản hướng dẫn của Trung ương, Ban Dân tộc  đã tham mưu UBND tỉnh trong việc phân định 3 khu vực miền núi (I,II,III) theo trình độ phát triển; phân định khu vực vùng cao, vùng miền núi làm cơ sở để hoàn thiện các chính sách hỗ trợ đầu tư đến đối tượng cụ thể; chủ trì phối hợp chặt chẽ với Sở, Ban ngành liên quan và các huyện miền núi xây dựng các đề án, dự án quy hoạch về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội miền núi; tham mưu cho UBND tỉnh trong chỉ đạo thực hiện tốt về chương trình ĐCĐC, dự án chuyển giao khoa học công nghệ; chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn; chính sách trợ giá, trợ cước cho miền núi. Đặc biệt là thực hiện dự án xây dựng Trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao Tà Rụt huyện ĐaKrông- một trong hai dự án TTCX đầu tiên trong cả nước.
Giai đoạn từ 1999 đến nay, Chính phủ tập trung tăng cường nguồn lực đầu tư theo các Chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình đầu tư cho các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với nhiều cơ chế chính sách cụ thể.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác Dân tộc, Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực duyên hải miền Trung, Nghị quyết số 05/NQ-TU của về phát triển kinh tế xã hội miền Tây giai đoạn 2002 – 2010, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác Dân tộc…vv. Ban Dân tộc đã thực hiện tốt việc tham mưu xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động về công tác Dân tộc, làm cơ sở để Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân ban hành các Nghị quyết, UBND tỉnh ban hành nhiều Kế hoạch, Chương trình hành động, Chiến lược thực hiện trong quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.
Nhiều đề án, dự án, chính sách và phương thức đề xuất tổ chức do Ban Dân tộc xây dựng đã trở thành những tiêu điểm mô hình, không chỉ thực hiện ở địa phương mà còn được Chính phủ nghiên cứu quyết định ban hành thực hiện rộng trên toàn quốc như Đề án Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo người dân tộc thiểu số, Đề án Giảm nghèo bền vững đối với thôn bản, xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh, Hội nghị biểu dương đại biểu đại diện cho thế hệ già làng trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số có thành tích trong công cuộc xây dựng quê hương và khối đại đoàn kết toàn dân tộc…vv.  
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh đã làm tốt chức năng tham mưu cho các cấp chính quyền trong tổ chức quản lý chỉ đạo thực hiện các Chương trình xây dựng Trung tâm cụm xã miền núi, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) qua các giai đoạn, Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số (Chương trình 134), Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững và rất nhiều chính sách hỗ trợ, dự án đầu tư đối với với cộng đồng và vùng dân tộc thiểu số. Rà soát, tổng kết đánh giá việc tổ chức thực hiện các chính sách hiện hành, bổ sung, sửa đổi một số chính sách theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành để giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, phấn đấu vươn lên hòa nhập với sự phát triển chung. Huy động các nguồn vốn từ các các tổ chức trong và ngoài nước; và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư; xây dựng chương trình, kế hoạch và định kỳ kiểm tra, thanh tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia thực hiện chính sách dân tộc; tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong cùng dân tộc, trong cộng đồng làng, bản; tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các đơn vị, địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.
Đi cùng với công tác quản lý nhà nước về thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia, chính sách dự án hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số, Ban Dân tộc đã thực hiện tốt công tác tham mưu UBND tỉnh trong chỉ đạo thực hiện một số nội dung trọng tâm hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực công tác dân tộc như định kỳ tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số trong tỉnh (năm 2009, năm 2014); tổ chức Đoàn già làng, trưởng bản dân tộc thiểu số có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng thăm thủ đô Hà Nội, báo công trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp 46 năm đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô vinh dự mang họ Hồ của Bác, xuất bản bộ sách học tiếng Bru-Vân Kiều làm cơ sở giảng dạy và học tập cho cán bộ công tác ở vùng miền núi....vv; nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc, công tác định canh định cư phục vụ xây dựng quy hoạch, chính sách, chương trình, dự án phát triển vùng dân tộc thiểu số; Nghiên cứu đặc điểm, bản sắc văn hoá các dân tộc, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của các dân tộc; đề xuất những giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc phù hợp với tình hình địa phương…vv.
Kết quả công tác của Ban Dân tộc đã góp phần với các ngành, các địa phương cùng với Đảng bộ và cộng đồng các dân tộc thiểu số đã tạo ra sức mạnh tổng hợp làm đổi thay căn bản các mặt kinh tế - xã hội vùng miền núi, vùng phên dậu của quốc gia trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Cộng đồng các dân tộc thiểu số vui mừng trước sự đổi thay phát triển và khẳng định niềm tin vào chính sách dân tộc của nhà nước, nhận thức và thay đổi phương thức sản xuất để tự vươn lên thoát nghèo.
Đời sống kinh tế hộ gia đồng bào dân tộc thiểu số ổn định và phát triển, không còn tình trạng thiếu ăn mùa giáp hạt và du canh du cư như những năm trước đây, tỷ lệ giảm hộ nghèo hàng năm luôn đạt theo yêu cầu. Mô hình kinh tế trang trại, kinh tế tiểu điền ngày càng được nhân rộng với quy mô lớn phát triển thành các vùng chuyên canh định hình rõ rệt. An sinh phúc lợi xã hội luôn được đảm bảo về các mặt y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội. Kết cấu hạ tầng miền núi được xây dựng đồng bộ phục vụ tốt đời sống sản xuất và dân sinh xã hội; tất cả các xã đều đã có đường ô tô đến trung tâm - những Tri, Cuôi – Hướng Lập, Ba Linh, Kỳ Nơi – A Vao bao năm ở tận miền biên viễn, bây giờ quá đỗi gần gũi trong tầm tay khi đường xe về đến; hệ thống điện lưới, thông tin, nước sinh hoạt, công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng  tương đối đầy đủ đến các bản làng.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được chú trọng, hạn chế thấp nhất các loại dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Đồng bào dân tộc thiểu số được khám chữa bệnh miễn phí. Đội ngũ cán bộ y tế xã được tăng cường, một số xã đã có bác sỹ,  thôn bản đã có y tế thôn và được trang cấp một số thuốc thông dụng, các xã dọc tuyến biên giới ngoài phòng khám khu vực, trạm y tế xã còn có trạm quân y các đồn biên phòng góp phần việc cứu chữa, điều trị cho bà con.
Hoạt động văn hoá, thể thao vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng thực hiện tốt qua các phong trào ở cơ sở trong những ngày  lễ lớn của đất nước; lễ hội truyền thống dân tộc Vân Kiều, Pa Cô được duy trì và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp. Các tuyến phòng thủ được tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng cố, an ninh biên giới được giữ vững. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tăng cường. Năng lực cán bộ cấp cơ sở, cộng đồng ngày càng được nâng cao thể hiện qua vai trò làm chủ đầu tư các chương trình dự án trên địa bàn. Nhiều điển hình sản xuất giỏi, nhiều cá nhân và tập thể đã được khen thưởng của các cấp, các ngành trong phong trào thi đua ái quốc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Huyện miền núi Hướng Hoá được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Những đổi thay đi lên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc đã được các cấp, các ngành ghi nhận khen thưởng. Ban Dân tộc vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều Cờ Thi đua, Bằng khen của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc, Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong thực hiện công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, trong sự đổi thay của cộng đồng các dân tộc thiểu số thì vẫn còn những khó khăn thách thức. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là lõi nghèo của cả nước, của mỗi một địa phương; vùng luôn chịu ảnh hưởng của thiên tai, ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nhiều rũi ro bất ổn. Tính đến thời điểm đầu năm 2016, trong 41 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đã có đến 28 xã, 26 thôn bản đặc biệt khó khăn thuộc diện hỗ trợ đầu tư của Chương trình 135; huyện miền núi Đakrông vẫn là một trong 62 huyện nghèo của cả nước được đầu tư theo Nghị quyết 30a của Chính phủ.
Khó khăn của người dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều, sự chênh lệch không chỉ về thu nhập mà cơ hội phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và các vùng khác vẫn còn lớn. Vấn đề biến đổi khí hậu, vấn đề dân tộc, tôn giáo của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng tác động đến địa bàn vùng dân tộc thiểu số nhất là vùng giáp biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. Hệ thống chính sách dân tộc không chỉ chịu tác động từ những điều kiện đặc thù của vùng mà còn chịu tác động bởi xu thế phát triển của cả nước, của khu vực và thế giới. Nếu thiếu đi định hướng chính sách phù hợp sẽ dẫn đến nguy cơ khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền ngày càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định an ninh chính trị trong vùng.
Từ những việc đã làm được và những khó khăn thách thức hiện tại, thực tiễn công tác dân tộc 70 năm qua đã chứng minh nơi nào chúng ta tập trung chăm lo và quan tâm đầy đủ đến hoạt động công tác dân tộc thì tình hình mọi mặt ở vùng dân tộc thiểu số ổn định, phát triển và ngược lại; phải có nhận thức thật sự đúng đắn về công tác dân tộc, coi công tác dân tộc là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên lâu dài của hệ thống chính trị và toàn xã hội, thể hiện nhận thức đó thành tư tưởng và hành động cụ thể về công tác dân tộc. Bám sát sự lãnh đạo của Đảng, cụ thể hóa Chỉ thị, Nghị quyết thành những chính sách, chương trình hành động, kế hoạch cụ thể, đồng bộ và thống nhất. Trong quá trình thực hiện cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ của các ngành; tính chủ động tích cực của địa phương là quyết định và phát huy dân chủ, tinh thần làm chủ, tự lực của nhân dân trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc nói riêng và công tác dân tộc nói chung. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, phổ biến, giáo dục, chính sách, pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao hiệu quả công tác thnah tra, kiểm tra thực hiện chính sách dân tộc; đi sâu đi sát nắm bắt tình hình vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nắm chắc diễn biến tâm tư tình cảm của đồng bào; kịp thời giải quyết các vụ việc “nóng” nhạy cảm phát sinh ngay tại cơ sở. Xây dựng và ban hành các chính sách dân tộc phải phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao; phải bố trí đủ nguồn vốn thực hiện các chính sách đã ban hành. Thực hiện các chính sách đầu tư, hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trãi, manh mún; chú trọng huy động nguồn lực hỗ trợ của doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế. Củng cố hệ thống chính trị cơ sở, chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số. Kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng lực lượng cốt cán, phát huy vai trò những người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí gắn liền với đào tạo, dạy nghề, việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
Trên bước đường phát triển của cộng đồng các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, trong  hành trình thời gian 70 năm - từ Ban Chỉ đạo miền núi khu vực Vĩnh Linh, Ban Cán sự miền Tây đến Ban Dân tộc ngày nay, chúng ta rất đỗi vui mừng cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh ngày càng trưởng thành vững mạnh, làm tốt chức năng tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh về quản lý Nhà nước trong công tác dân tộc; đã cùng các ngành các cấp đạt được những thành tựu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và chính sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng đất nước. Chúng ta tự hào là thế hệ được kế thừa những truyền thống tốt đẹp đó để mang hết tinh thần và trí lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác dân tộc trước những thuận lợi và khó khăn trong thời gian đến, tiếp bước truyền thống vẻ vang của sự nghiệp 70 năm qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đáp ứng nguyện vọng và niềm tin yêu của cộng đồng các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô và  tiến trình phát triển của tỉnh nhà./.

 

Tác giả bài viết: Đinh Văn Nhân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a